SƠN LA





 Di tích nhà tù Sơn La

 Lòng hồ thủy điện Sơn La


 Tổ máy số 5 đang vận hành (duới chân). Vị trí này sâu cách mặt đập tràn khỏang 50m :)


Chuyện trên đường (2)




Đi công tác với đồng nghiệp nam có nữ có, đi từ khi còn trẻ đến giờ sắp về hưu. Trên xe hay nghe mọi người nói chuyện, nhận ra mọi người thường nói về những chuyện sau.
ĐÀN ÔNG: - Lúc còn sinh viên hay mới ra trường: lúc đầu bàn tán về em này xinh em kia kiêu em nọ ngoan em khác lăng nhăng… Một lúc cũng quay về chuyện… túng tiền, chuyện mượn tiền cầm đồ ăn chịu…
-         Tuổi trung niên, đã có gia đình: chuyện tiếu lâm mặn nhạt đủ cả, rồi chuyện “đấu đá” ghế nọ ghế kia…
-         Tuổi sắp về hưu: vẫn chuyện tiếu lâm, kể “xấu” các bà vợ, chuyện “thế sự” cấp cao trong đến ngòai nước…
-         Về hưu: Tiếu lâm về cái sự “bất lực” “trên bảo dưới không nghe”, cuối cùng là chuyện sức khỏe: huyết áp, tiểu đường, mỡ máu, gan thận…
ĐÀN BÀ: - Còn trẻ: chuyện quần áo giày dép, chuyện phim sách… cuối cùng là nói… chuyện người khác.
-         Có gia đình: chuyện con cái, chuyện chồng say xìn, chuyện bồ bịch ông nọ bà kia. Rồi lại… chuyện người khác xấu.
-         Gần về hưu: chuyện con dâu con rể, chuyện giữ eo giảm cân… rồi vẫn chuyện xấu của người khác.
-         Về hưu: chuyện cháu nội cháu ngọai, chuyện sức khỏe thuốc huyết áp tim mạch… rồi lại chuyện người khác xấu.
(“người khác” trong chuyện của đàn bà phần lớn là…những đàn bà khác).

Túm lại: Đàn ông hay nói/ tiếu lâm về… tình dục; đàn bà hay “tám” về (thói xấu) đàn bà khác. Nhưng mức độ “ác liệt”, nói nhiều nói to thì cả đàn ông và đàn bà như nhau. Hehe…


Trường Sa của tôi

http://www.baomoi.com/Home/DuLich/www.thanhnien.com.vn/Truong-Sa-cua-toi/8454635.epi

Chuyến đi Trường Sa của tôi có thể coi là “hành trình xanh”, bởi từ đầu đến cuối chuyến đi nhìn đâu cũng thấy một màu xanh bất tận.

Những ngày tháng tư âm lịch vẫn còn trong thời gian thuận lợi cho những chuyến đi biển dài ngày, gió nhẹ, nắng nóng. Ra khỏi cửa Cần Giờ là biển hiện ra một màu xanh hiền hòa. Cứ vậy suốt gần ba ngày đầu của hành trình xung quanh là sắc biển xanh biến đổi khôn lường. Mỗi sáng, mỗi chiều, nhìn gần, nhìn xa… biển xanh nhạt, xanh thẫm, xanh tím, xanh đen… Vào lúc bình minh và hoàng hôn mặt trời đỏ rực phía chân trời, biển chuyển màu vàng cam nhưng chỉ thoáng chốc lại trở về với sắc xanh bất tận của mình.
Hành trình miệt mài trên biển cứ ngong ngóng khi một chấm, rồi một dải xanh mờ hiện lên, rõ dần, mọi người lại nôn nao... Đảo của ta đấy, những tên đảo đã thân quen tự khi nào mà bây giờ mới được tận mắt nhìn thấy: Song Tử Tây, Đá Nam, Đá Thị, Sơn Ca, Sinh Tồn, Len Đao, Đá Lát, Đá Tây, Trường Sa lớn… Đảo nổi đảo chìm xanh màu lá trên nền xanh của biển của trời. Ca nô cặp sát tàu đưa từng nhóm vào đảo.

Đảo Song Tử Tây - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu
Đảo xanh, có thể gọi tất cả những hòn đảo của Trường Sa như vậy bởi màu xanh của cây lá có mặt khắp nơi. Có hai loại cây phổ biến là bàng trái vuông và phong ba đều có lá đan nhau rậm rạp, từng chiếc lá to dày che chắn cho nhau dưới ánh nắng như nung. Mùa này bàng trái vuông chưa có nhiều trái, thấp thoáng trong đám lá chùm nụ hoa xinh xắn chờ đêm tối nở bung nhụy lấp lánh như đèn lồng, vài trái non xanh đong đưa trong gió. Mấy anh lính trẻ luyến tiếc chưa có trái bàng để tặng cho người từ đất liền vì ai cũng muốn có được một trái bàng vuông mang về làm kỷ niệm. Nhưng thôi, mọi người bằng lòng chụp hình và mang những tấm hình trái bàng vuông về đất liền khoe với bạn bè, để trái bàng kia trên cây cho chúng già đi, hạt lại mọc mầm nảy lên cây mới, mang lại làn gió mát, mang lại màu xanh mà sau này ai ra thăm đảo cũng được nhìn thấy cây bàng trái vuông độc đáo.
Đảo nổi còn có lớp cát san hô mỏng trên mặt nhưng các đảo chìm thì chỉ có nhà xây nổi trên mặt nước. Vậy mà đảo nào cũng xanh trên từng mét vuông mặt đất hay trên giàn treo nho nhỏ lấn ra biển cả. Rau trồng bằng hạt theo từng luống nhỏ xíu: rau muống, rau cải, mồng tơi... chăm sóc từng cây. Hầu như đảo nào cũng trồng rau muống, lính ta nói đùa “rau muống còn thì đảo ta còn, đảo ta còn thì biển trời ta còn”. Đảo Song Tử Tây còn có chuối, ớt, lá lốt, rau ngót... Đảo Sinh Tồn Đông có cả giàn bầu trái sai lúc lỉu, đảo chìm trồng cả sả, riềng và lá mơ. Có nơi phải đóng dàn rồi dùng ni lông quấn xung quanh vườn rau nhỏ để tránh gió mang hơi nước mặn làm cháy hết lá. Ngay trên nhà giàn DK1, trong cái vuông đất nhỏ xíu cao hàng chục mét chênh vênh trên mặt biển còn trồng cả hành và thìa là nữa (món cá biển làm sao thiếu rau thìa là?). Nước tiết kiệm qua nhiều lần dùng và lần cuối để tưới rau. Mà cũng đâu được tưới thoải mái. Rau cũng như người, chắt chiu từng giọt nước ngọt hứng từ cơn mưa đỏng đảnh thất thường ở Trường Sa hay dành dụm từ những thùng nước ngọt theo tàu từ đất liền ra đảo. Ở nơi đảo xa này mới thấy quý từng giọt nước, từng nắm đất, mới càng hiểu hơn hai chữ  ĐẤT NƯỚC thiêng liêng!
Màu xanh Trường Sa của biển cả, của ngọn rau quê nhà, là gương mặt tỉnh táo người lính đảo dõi canh biển trời, là ánh mắt vời vợi người mẹ, người em gửi thương gửi nhớ… Hành trình của chúng tôi đi theo màu xanh Trường Sa đầy sức sống mãnh liệt mà bình dị. “Tấc đất ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó” *. Hàng ngàn năm lịch sử mỗi tấc đất, mỗi tấc biển đảo là mồ hôi nước mắt, là xương máu tiền nhân.
 
Vườn rau trên nhà giàn DK1
Màu xanh Trường Sa nhắc nhớ không ai có thể quên điều đó.
Bàn tay người lính
Đi trong mênh mông trời biển, khi nào nghe thấy tiếng còi tàu rúc lên là biết đã gần tới đảo. Hồi còi báo hiệu tràn ngập niềm vui. Mọi người đổ ra boong ngóng về phía xa để được nhìn thấy một chấm nhỏ hay một vệt mờ hiện ra, rõ dần, lớn dần… Kìa ngọn đèn biển vươn cao vững chãi, kìa những cánh quạt gió như những cánh chim chấp chới, kìa màu xanh của cây bàng trái vuông, của cây bão táp, phi lao… Có đi biển dài ngày mới hiểu nỗi bồi hồi khi thấy đảo như thấy đất liền. Ba hồi còi tàu rúc lên, đã nhìn thấy áo trắng áo xanh của lính đảo nơi cầu tàu.
 
Đàn gà trên đảo Song Tử Tây
Lên đảo, việc đầu tiên là đứng trước cột mốc chủ quyền chụp hình kỷ niệm, lại còn “tranh nhau” đứng cạnh người lính đang bồng súng nghiêm trang bên cột mốc chủ quyền. Đôi lúc quên mất là anh lính đang làm nhiệm vụ, xúm lại hỏi thăm anh, em, cháu, con tên gì, quê đâu, ra đảo lâu chưa? Vẫn trong tư thế đứng nghiêm, có người trả lời dõng dạc như quân lệnh, cũng có chú lính ngượng ngùng “xin lỗi, con đang làm nhiệm vụ”. Ít phút sau thay ca, chú lính ào vào náo nức trò chuyện với chúng tôi.
Trên đảo Song Tử Tây, phía sau doanh trại có mấy cái chuồng gà, khi được thả ra chúng đập cánh đua nhau gáy ầm ĩ làm lũ vịt đang nằm tránh nắng dưới bóng cây nhao nhao đứng dậy. Hỏi một người lính: sao toàn là gà trống thế hả cháu?
Chú lính trẻ vui vẻ trả lời:
 - Gà mái đi tàu ra đảo bị say sóng chả sống được cô ạ.
- Thật à? Khổ thân bọn gà trống.
Lỡ lời đùa rồi tôi ân hận ngay khi nghe chú lính nửa đùa nửa thật:
- Sao cô chả khổ thân bọn cháu, cả năm có nhìn thấy bóng dáng con gái đâu hả cô?
Nhưng cũng cậu lính ấy tếu táo: không sao cô ạ, bọn gà trống ghê lắm, chúng nó toàn đi “yêu” bọn vịt đấy. Không tin cô chờ tí nữa mà xem.

 Hát cùng lính đảo - Ảnh: Nguyễn Thị Hậu
Thế là mấy cô cháu cười òa vui vẻ.
Để vào được mấy đảo chìm, tàu phải neo đậu xa hơn. Bước lên bờ là bước vào “nhà”, cũng đủ nhà bếp, phòng ngủ, phòng khách. Đứng bên mấy cô ca sĩ trẻ trên ban công đón gió biển, bàn tay anh lính vụng về mà trìu mến đội cho cô gái chiếc mũ hải quân rồi bối rối khi cô kế bên chụp hình lưu niệm. Mắt tôi nhòe đi… Bao giờ bàn tay kia được cài vòng hoa cô dâu lên đầu một người con gái?
Và chúng tôi hát, không phân biệt đâu là lính, đâu là ca sĩ, đâu già, đâu trẻ. Vừa rối rít nhận đồng hương đấy, nhưng khi cất tiếng hát tất cả đều là đồng đội. Có người lính trẻ đứng trong công sự mắt dõi nhìn biển trời mà bàn chân anh vẫn vô tình nhịp theo bài tình ca quen thuộc.
Thời gian trên đảo qua nhanh lắm, chưa kịp ấm bàn tay đã nghe còi bùi ngùi nhắc trở về tàu. Ca nô quay mũi, những bàn tay vẫy. Sẽ còn gặp lại, sẽ còn gặp lại. Lời chào chung cũng là niềm hy vọng của mỗi người.
Đi qua vùng biển Len Đao -Cô Lin - Gạc Ma và vùng biển trên thềm lục địa, mọi con tàu đều tổ chức lễ tưởng niệm những người lính đã hy sinh bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Buổi lễ thiêng liêng không chỉ là nghi thức mà là tình cảm thật sự của những người còn sống dành cho các anh. Khi vòng hoa đỏ và những bông cúc vàng được thả xuống biển xanh, trong mờ ảo khói nhang trầm, các anh như đang hiển hiện quanh đây… Ba hồi còi tàu vang lên: Các anh không bao giờ mất, những người lính đã nằm lại với biển Đông hay ngã xuống nơi biên giới phía Bắc, chừng nào chúng ta còn nhớ đến họ, còn tiếp tục những công việc mà họ đã làm.
Đất nước trọn vẹn một màu xanh. Xanh núi xanh sông xanh rừng xanh biển, bởi trong màu xanh bất tận ấy có màu máu đỏ của biết bao con người…
 TP.HCM 7.5.2012
Nguyễn Thị Hậu

Ngày của MẸ

 Má ở Sài Gòn (1950)
 Má và hai chị em ở Hà Nội 1959


Với má, Hà Nội 1964

Má tôi là một người phụ nữ Nam bộ.
Ông ngọai tôi có một nhà máy xay lúa ngay con rạch Cái Tôm ở Hòa An, gần chợ Cao Lãnh. Mỗi ngày thợ làm công có đến vài chục người. Cả nhà, từ ông bà ngọai đến các dì các cậu đều làm việc ở nhà máy này. Người lo máy móc, người lo điều thợ, người lo nhận, giao lúa gạo… Bà ngọai và mấy cô con gái lo chợ búa cơm nước cho cả nhà và đám thợ, cho cả khách hàng từ xa tới lỡ con nước chưa về được. Má tôi được giao việc đi chợ mua đồ ăn và phụ dì Hai nấu cơm. Bữa cơm chung chủ thợ ngon lành và đầm ấm như người trong một nhà. Nhờ vậy nhà máy xay luôn đông khách, làm ăn khấm khá.
 Quê nội và quê ngọai tôi chỉ cách nhau một nhánh sông Tiền, có bến đò nhỏ nối liền làng Mỹ Hiệp bên Cù Lao Giêng, huyện Chợ Mới, An Giang với làng Hòa An, Cao Lãnh. Xưa, dân Cù Lao Giêng vẫn qua chợ Cao Lãnh đi chơi, mua bán, nhất là vào ngày lễ tết. Các bà cô của ba tôi đã “tìm thấy” cô con dâu tương lai là má tôi trong những lần qua chợ Cao Lãnh như thế. Tiêu chuẩn tìm dâu của các bà là: vén khéo chợ búa, ăn nói dịu dàng, và dung nhan phải “coi được”. Vậy là má tôi, lúc đó tròn 20 tuổi, lọt vào “mắt xanh” của các bà cô. Và chỉ vài tháng sau ông bà nội tôi qua coi mắt má tôi. Ba tôi khi ấy là thầy giáo đang dạy học ở Cái Răng, Cần Thơ. Ông kể, ông nội viết thơ kêu về cưới vợ, bữa đám nói, ông chỉ kịp thấy người bưng khay nước đi ngang qua có cái lưng áo dài thon thả với búi tóc tròn dày, không kịp nhìn thấy mặt người vợ tương lai. Rồi đám cưới ba má tôi diễn ra vào đầu năm 1945. Từ ấy, ba má tôi đã bên nhau trọn 40 năm, cho tới ngày ba tôi đi xa.
  Biết mình không thừa hưởng được nét phúc hậu gương mặt trái xoan và nước da trắng trẻo của cô gái miệt vườn Cao Lãnh, tôi vẫn thường nói đùa với má: Chắc má yêu ba lắm nên con mới giống ba có nước da ngăm ngăm. Má cười dịu dàng, con giống bà nội, còn chị giống bà ngọai, vì má thương bà nội bà ngọai như nhau.
 Ngày sinh của Má chúng tôi không biết, Má cũng không biết, chỉ nghe bà ngọai kể rằng sinh Má vào một đêm cuối năm. Dù bận rộn đến đâu thì những ngày cuối năm chúng tôi vẫn nhớ rằng Má đã già đi hơn một tuổi. Tuy nhiên Má không bao giờ đồng ý cho chúng tôi tổ chức mừng sinh nhật. Má nói: các con sống sao cho ba má không buồn lòng, thế là có hiếu, không cần phải bày vẽ làm gì. Các con gái tôi thì thường so sánh: mẹ nấu ăn không ngon bằng ngọai! Còn phải nói, con gái Cao Lãnh nấu ăn ngon có tiếng! Nhưng quan trọng hơn là suốt cuộc đời Má, mỗi món ăn là tình yêu Má dành cho Ba, cho các con các cháu. Thứ gia vị ấy đâu phải ai cũng có và biết sử dụng nó trong cuộc sống hiện nay…
Về với Má bao giờ tôi cũng như trẻ nhỏ để được nằm bên nghe Má thủ thỉ chuyện “hồi đó…”. Hồi đó có một cô gái Cao Lãnh lấy chồng bên Cù lao Giêng…

(Đã in trong tập tản văn QUAY QUA QUAY LẠI, 2010)

Những gói bột pha sẵn




Chủ nhật mưa bão. Làm biếng đi chợ nên tôi vô siêu thị gần nhà, loanh quanh giữa những kệ hàng hóa đầy ắp chưa biết mua gì, bỗng nhìn thấy một ngăn xếp những gói bột pha sẵn: bột bánh xèo, bột bánh cuốn, bột bánh khọt, bột bánh bèo, bột chiên xù chiên giòn đủ lọai… Cầm một gói lên xem thử: bao bì đẹp, ghi đầy đủ công thức thành phần, hướng dẫn cụ thể cách chế biến. Ừ, mua một gói bột bánh xèo về làm thử, trời mưa này ăn bánh xèo là nhất.
Ghé quầy thức ăn tươi mua miếng thịt ba rọi, trăm gram tôm đất tươi chong, giá, hành tây, rau sống… À, miếng mỡ heo nữa chứ. Vậy là buổi trưa được bữa ăn tươi.
Bột pha nước theo tỷ lệ hướng dẫn, cho thêm chút bột nghệ và hành lá xắt nhuyễn. Thau bột màu vàng nhạt điểm xanh lá hành trông đã thấy ngon. Nhớ hồi xưa khi xay bột bao giờ cũng phải cho thêm chén cơm nguội vô xay cùng, tôi pha thêm chút bột gạo nữa. Để chi vậy mẹ?- Cho bánh giòn con ạ.
Một khay để kế bên bếp gồm: Thịt heo xắt mỏng, tôm lặt sạch râu để nguyên đầu đuôi cho đẹp, hành tây xắt mỏng, giá, miếng mỡ heo. Còn rau sống rửa sạch sắp sẵn lên đĩa bên cạnh tô nước mắm chua ngọt đã pha. Tất cả sẵn sàng cho… chiếc bánh đầu tiên.
Chảo gang bắc lên bếp cho thật nóng, cục mỡ heo xoa lên khắp chảo cho láng, hành tây, thịt heo và tôm cho vào chảo đảo nhanh tay. Một vá bột đổ nhanh vào chảo, kết hợp tay đổ bột và tay nghiêng chảo sao cho bột tròn dàn đều khắp chảo. Một nhúm giá để vào giữa. Đậy nắp vung. Khỏang 1 phút mở nắp, dùng vá lật gấp đôi chiếc bánh rồi xúc ra đĩa. Xong.
Chiếc bánh vàng đều, gìòn rụm nhất là ở rìa bánh. Nhân bánh là tổng hợp các vị béo, bùi, dai, giòn của thịt heo, bột, tôm và giá vừa chín tới. Ăn bánh xèo phải ăn nóng ngay khi vừa lấy khỏi chảo, vừa đổ vừa ăn, một người đổ có thể 3 người cùng ăn. Bánh xèo cuốn rau sống chấm nuớc mắm…ăn quên no. Khi ngán bánh xèo mặn mà còn bột thì sẽ pha thêm nước cốt dừa và đường để đổ bánh xèo ngọt, lại thấy ngon và ăn nữa được ngay.
Sau bữa bánh xèo ngon lành và… không mất công lắm, con gái nói: tuần sau mình làm bánh khọt đi mẹ. Uh, để ra chợ mua cái khuôn bánh khọt bằng đất nung. Mẹ cũng chưa đổ bánh khọt bao giờ, làm thử xem có được như bánh khọt “cô Ba Vũng Tàu” không nhé.
Ngày trước muốn ăn bánh xèo bánh khọt phải ngâm bột trước một ngày, mang đi xay hay tự xay nếu nhà có cối. Xay xong phải “bòng bột” tức là đựng bột nước trong bao vải dày và dùng vật nặng ép lên cho bột ra bớt nước. Rồi mới pha bột theo kinh nghiệm riêng từng người (tùy theo lọai gạo, ít hay nhiều nước cốt dừa…). Bây giờ chỉ còn khó ở phần đổ bánh. Các công đọan trước như ngâm xay bột, pha bột… đều được làm sẵn và có công thức cả rồi. Những “bí quyết” xay bột pha bột của từng người không còn cơ hội thể hiện nhưng bù lại là sự thuận tiện cho nhiều người nội trợ.
Từ những gói bột pha sẵn thế này dư vị những món ăn dân dã ngon lành sẽ sống lại trong nhiều ngôi nhà. Mỗi gian bếp ấm cúng hơn mỗi gia đình quây quần bên nhau nhiều hơn… điều đó thật cần thiết trong không gian thị thành vội vã về thời gian mà như lỏng lẻo hơn về các mối quan hệ con người.


Những mảnh vỡ (31)


Qua cầu treo

Voi và chuột đi qua cầu treo. Thấy cây cầu lắc lư chuột sợ quá bèn trèo lên người voi. Khi đã yên vị trên lưng voi, chuột nói: cậu xem này, cây cầu oằn xuống dưới sức nặng của chúng ta!
Vừa lúc đó voi nghiêng mình giữ thăng bằng, thế là chuột rơi tuột khỏi lưng voi và lộn nhào xuống sông.
 Ở trên cao đừng vội huênh hoang, nhất là khi đứng trên lưng người khác.


Mèo hay chuột

Mâm cơm cúng bị hất đổ, thức ăn nay tha vào gầm giường mai ở hốc tủ, đàn gà con bị cắn chết… Bà tức lắm: thủ phạm là con mèo nhà hàng xóm chứ còn “ai” vào đây nữa! Bà chửi bóng chửi gió, rồi bà sang nhà hàng xóm mắng vốn và dọa sẽ thuốc chết con mèo để “ổn định tình hình” nhà bà.
Hàng xóm cười nhạt: vâng, cứ thuốc đi, mèo ăn bậy mèo chết. Bằng không để lũ chuột thành tinh của nhà bà chết hết đi cho cả xóm này nhờ!


Tầm nhìn

Ông kia nói với bác sĩ nhãn khoa: Tôi không thể nhìn thấy những vật ở xa.
- Bây giờ ông nhìn xem, cái gì ở trên trời?
- Thấy chói chói... Mặt trời?
- Nhìn xa đến thế ông còn muốn tới cỡ nào nữa?!
Từ đó ông này luôn tự hào về tầm nhìn của mình. Một ngày ông ta gặp tai nạn vì mải nhìn giời nên rơi xuống “hố tử thần” đầy trên đường thành phố J


Những mảnh vỡ (30)



Tình mới

Biết cô qua những vần thơ đầy vẻ dịu dàng, từ nơi xa anh quyết về tìm gặp. Cô kể về cuộc hôn nhân bất hạnh, một mình vất vả nuôi con... Anh đi và để lại một số tiền lớn cho cô sinh sống, chờ anh làm thủ tục bảo lãnh.
Vài tháng sau tình cờ anh biết cô mới thành lập một công ty mà giám đốc là người mà cô đã cặp kè từ lâu.
Đồng tiền bao giờ cũng có ích, nhất là khi nhờ nó ta hiểu thêm về con người.

 Gà Vịt

Mỗi khi gà trống gáy ò ó o báo hiệu bình minh là người thức dậy, buổi trưa gà mái đẻ xong cục tác thì người đến ổ nhặt trứng. Người còn vãi thóc cho gà ăn. Thấy vậy vịt trong chuồng cũng cạp cạp ầm ĩ nhưng chẳng có ai đến. Kêu mãi kêu mãi khản đặc cả giọng, thế là người lùa vịt ra đồng bắt nhặt lúa rơi.
Vịt bèn đẻ trứng trắng đồng, người phải đi theo mà nhặt.

 Chê

Ông kia ăn gì cũng chê mặn nhạt, cay đắng, thơm thối... thậm chí chưa ăn đã chê, chỉ nghe kể cũng chê. Nhiều người nghĩ ông sành ăn.
Nhưng có đứng gần mới biết miệng ông rất hôi, như bị bệnh đường tiêu hóa hay bị sâu răng. Miệng thế... ăn gì mà chả chê, chê mãi thành thói quen.
Chỉ có vợ nấu là ông không dám chê vì nếu chê sẽ bị cho nhịn đói!
Tự nhủ, muốn chê món gì hãy xem mình có bị hôi miệng không đã, nhé.