MÙA THU BERLIN (2)




Khu tưởng niệm nằm giữa một công viên như khu rừng nhỏ. Trên chiếc cổng xây bằng đá còn nguyên những dòng chữ tôn vinh những người lính đã ngã xuống ở Berlin mùa hè năm 1945. Hàng rào thấp như để phân chia con đường và khu rừng phong lá còn xanh mướt, bên này là con đường lát những viên đá nhỏ dẫn vào khu tượng đài. Những thành phố châu Âu luôn mang cho tôi một cảm giác thân thuộc khi nhìn thấy lá phong vàng đã rụng gió cuốn đi rồi lặng nằm ven lề đường lát đá. Hàng trăm năm đã trôi qua, những viên đá hằn dấu thời gian vẫn được gìn giữ, trở thành những chứng nhân thầm lặng của lịch sử, trở thành ký ức của biết bao người từng sống và từng đến nơi đây.

Buổi chiều, công viên vắng, chỉ có tiếng lá kêu xào xạc. Những hàng liễu đứng thẳng tắp như hàng lính đứng nghiêm bên ngôi mộ các chiến sĩ vô danh, hàng liễu lá rủ sau tượng đài như nỗi đau của những Người Mẹ. Tượng đài chính trên một ngọn đồi thấp có những bậc thang dẫn lên, xung quanh viền những vòng nguyện quế đúc bằng đồng. Người lính Xô Viết tay bồng một bé gái, tay kia cầm thanh kiếm mũi chúc xuống đất. Gương mặt người lính và bé gái thảng thốt như vừa thóat khỏi một tai nạn khủng khiếp. Nghe kể rằng ý tưởng về tượng đài này xuất phát từ một câu chuyện có thật: một người lính Xô Viết đã lao ra cứu sống một bé gái giữa làn đạn, một phóng viên tình cờ chụp được bức hình người lính bồng em bé, vai khóac khẩu súng chúc nòng xuống đất. Tượng đài ra đời như thế. Mấy chục năm đã trôi qua, người ta tìm được cô bé ngày nào đã trở thành một phụ nữ, còn người lính vô danh ấy đã hy sinh ngay trong trận đánh.

Tượng đài của khu tưởng niệm gắn những dòng chữ tiếng Nga mà không cần dịch ra tiếng Đức. Những nỗi đau của chiến tranh, những sự hy sinh cho hòa bình có lẽ không cần phiên dịch bởi bất cứ nơi nào trên trái đất con người cũng cảm nhận và thấu hiểu về nó như nhau.

Bên dưới chân tượng đài luôn có những bông hoa tươi, bông hồng, bông cúc, có cả những nhành hoa dại. Chỉ có vài người ở đó nhưng tôi nghe thấy tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Anh… Một chú bé khỏang 2,3 tuồi lẫm chẫm từ chân đồi đi lên, mái tóc bạch kim sáng rực lên trong nắng chiều, dáng nhỏ nhoi của chú bé và bức tượng đài hòanh tráng bên nhau trông thật gần gũi và bình dị như bất cứ gì ta nhìn thấy trên đường phố, nhưng sao lòng tôi rưng rưng. Sự hy sinh to lớn của các thế hệ chính là để bảo vệ sự sống và sự hồn nhiên của trẻ thơ ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Chiến tranh rồi cũng qua đi. Những tượng đài kỷ niệm chiến tranh trở thành di sản văn hóa vì không chỉ ghi lại một sự kiện mà vì ý nghĩa nghệ thuật của tác phẩm điêu khắc đó mang gía trị nhân văn của lòai người. Tôn trọng những sự kiện của thời đã qua, bảo vệ ký ức của tiền nhân, gìn giữ di sản tinh thần cho đời sau… là sự thể hiện bản chất văn hóa của mỗi con người của mỗi thể chế.

Tôi nhớ có đọc trong một tác phẩm của Dumbatze, nhà văn Gruzia, một chuyện như sau: ông chủ tịch nông trang nọ đặt một nhà điêu khắc làm tượng đài kỷ niệm trận đánh đã diễn ra ở địa phương đó. Nhà điêu khắc phác thảo một người lính cầm súng trong tư thế lao lên phía trước. Ông chủ tịch bảo, đại khái: chiến tranh với lính tráng và vũ khí thì chúng tôi nhìn thấy nhiều rồi, anh vẽ giỏi mấy cũng ko thể đúng như chúng tôi đã thấy. Cái tôi cần là anh làm thế nào cho người ta ghê sợ chiến tranh, để sống tử tế hơn, để nuôi nhiều bò làm ra nhiều sữa, trồng nhiều lúa mì hơn, cho trẻ con được lớn lên dưới bầu trời xanh… Bạn có nhận thấy không, các tượng đài về Thế chiến II ở Liên Xô cũ và nhiều nước Đông Âu đều rất đẹp và buồn, “nỗi buồn chiến tranh”, đúng là như vậy đấy!

Chiều thu Berlin nắng nhạt dần, gió vẫn vi vút trên những hàng liễu. Vẫn biết không tượng đài nào bền vững như lòng người… nhưng sao vẫn chạnh lòng khi nhớ đến những nghĩa trang bạt ngàn tên tuổi những người đã nằm xuống trong suốt mấy chục năm chiến tranh trên đất nước ta.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét